LOADING

Qua lâu nhân

Thông báo lỗi

  • Notice: Undefined offset: 2 trong tb_megamenu_insert_tb_item() (dòng 343 của /home/opcbgpharma.com/public_html/sites/all/modules/tb_megamenu/tb_megamenu.functions.inc).
  • Notice: Undefined offset: 3 trong tb_megamenu_insert_tb_item() (dòng 343 của /home/opcbgpharma.com/public_html/sites/all/modules/tb_megamenu/tb_megamenu.functions.inc).

Tên thường gọi : Cây qua lâu còn có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua, người Tày gọi là thau ca.

Tên tiếngTrung : 栝楼   

Tên thuốc : Fructus Trichosanthes

Tên khoa học : Trichosanthes sp.

Họ bí : Cucurbitaceae

Mô tả cây : Cây thảo leo sống nhiều năm, thân có rãnh, tua cuốn có 2-3 nhánh. Lá mọc so le, phiến lá dài 5-14cm, rộng 3-5cm, chia 3-5 thuỳ, dày, dai, mặt trên nhám nhám. Cây có hoa khác gỗ, chùm hoa đực dài 15cm, lá bắc to có răng, hoa rộng 7cm, màu trắng, cánh hoa cao 2,5cm, nhị 3. hoa cái mọc đơn độc, bầu có cuống dài 3cm. Quả mọng tròn, to 9-10cm, màu vàng cam, hạt tròn dẹp, dài 11-16mm, rộng 7-12mm trong có lớp vo lụa màu xanh. Ra hoa tháng 6-8, có quả 9-10.

Thành phần hoá học : Hạt chứa khoảng 255 dầu, rể chứa nhiều tinh bột và 1% saponosid.

Tính vị, tác dụng : Qua lâu có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, khoan hung tán kết, nhuận tràng. Hạt và quả qua lâu có vị ngọt, đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, nhuận phế chống ho, nhuận tràng. Nếu để nhân hạt mà dùng sẽ sinh nôn nao khó chịu, buồn mửa, do vậy khi dùng phải ép bớt dầu. Rể củ qua lâu có vị ngọt, chua, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt giáng hoả, sinh tân dịch, nhuận táo, bài nung, tiêu thũng.

  Công dụng : Qua lâu được dùng trị phế nhiệt sinh ho, ho có nhiều đờm đặc, yết hầu sưng đau, sưng vú, đại tiện táo kết. Hạt và vỏ quả dùng chữa sốt khác nước, ho khan, thổ huyết, mụn nhọt, đại tiện táo bón. Rể củ dùng chữa nóng sốt âm, các chứng nhiệt, miệng khô khác nước, hoàng đản, đau vú, lở ngứa sưng tấy. Liều dùng, qua lâu 9-15g, qua lâu tử 9-15g, qua lâu bì 6-9g và thiên hoa phấn 10-15 dạng thuốc sắc.

Nhân hạt: Hạt lấy ở quả già, chắc, mập, phơi hoặc sấy khô. Tên thuốc là qua lâu nhân. Khi dùng đập nhẹ cho vỏ tách đôi, bỏ vỏ lấy nhân, giã nát (dùng sống) để trừ nhiệt. Có thể tẩm mật ong sao qua (bổ phế) để khỏi rát cổ (dùng chín). Qua lâu nhân có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, vào các kinh phế, vị và đại trường. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm, nhuận phế, chống ho, nhuận tràng. Liều dùng 8-16g, dạng thuốc sắc, dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa viêm tắc động mạch: Qua lâu nhân 16g, đương quy, cam thảo (mỗi vị 20g), kim ngân hoa, xích thược, ngưu tất (mỗi vị 16g), huyền sâm, đào nhân, đan bì (mỗi vị 12g). Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa lao phổi: Qua lâu nhân 8g, sài hồ, hạ khô thảo, huyền sâm (mỗi vị 16g), bán hạ chế, chỉ xác, tang bạch bì (mỗi vị 8g). Sắc uống trong ngày.

Lưu ý: Người tỳ vị hư hàn không dùng qua lâu nhân. Dùng nhiều sinh tiêu chảy.

 

There are 0 comments on this post.

add your comment